Pages

Được tạo bởi Blogger.

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015

Nhan Súc nói chuyện với tề vương

Vua Tuyên Vương nước Tề đến chơi nhà Nhan Súc, bảo: “Súc lại đây.”

Nhan Súc cũng bảo: “Vua lại đây”.

Các quan thấy vậy, nói: “Vua là bậc chí tôn, Súc là kẻ thần hạ. Vua bảo: “Súc lại đây” Súc cũng bảo: “Vua lại đây”; như thế có nghe được hav không?”

Nhan Súc nói: Vua gọi Súc, mà Súc lại, thì Súc là người hâm mộ thần thế. Súc gọi vua mà vua lại thì vua là người quí trọng hiền sĩ. Nếu để Súc này mang tiếng hâm mộ quyền thế, thì sao bằng để nhà vua được tiếng quí trọng hiền tài.

Vua nghe nói giận lắm, gắt lên rằng: “Vua quí, hay kẻ sĩ quí?”

Nhan Súc đáp: Sĩ quí, vua không quí.

Vua hỏi: Có sách nào nói thế không?

Nhan Súc nói chuyện với tề vương

Nhan Súc thưa: Có, Ngày trước, nước Tần sang đánh nước Tể. Có hạ lệnh: “Ai dám đến gần mộ ông Liễu Hạ Quí mà kiếm củi, thì phải xử tử”. Lại có lệnh: “Ai lấy được đầu vua Tề thì được phong hầu và thưỏng nghìn lạng vàng”. Xem thế đủ biết cái đầu ông vua sống thực không bằng cái mả kẻ sĩ đã chết.

Vua Tuyên Vương nói: Than ôi! Người quân tử ai mà dám khinh! Quả nhân cam chịu lỗi. Nay quả nhân xin làm đệ tử để tiên sinh dạy bảo cho. Tiên sinh mà về ỏ vối quả nhân, thì được ăn sung, mặc sướng, lên xe, xuống ngựa, vợ con được quần áo xênh xang tha hồ đẹp?

Nhan Súc từ chối, nói: Ngọc vốn ở núi, lấy ra mà giũa, chế làm đồ vật, tuy đem bày biện có phần quí báu, nhưng cũng là hỏng, vì vóc ngọc không còn. Kẻ sĩ sinh nơi thôn dã, bỏ ra làm quan tuy vinh hiển thật, xong hình thần không còn được toàn, Súc xin ở nhà, lúc đói mói ăn, thì cũng ngon miệng như ân cơm thịt, lúc đi, cứ bước khoan thai thì cũng nhẹ nhàng như lên xe, xuống ngựa; suốt đời không tội lỗi cùng ai, thì cũng sung sướng như quan cao chức trọng. Hình thần lúc nào cũng được trong sạch chính đính thế là đủ khoan khoái cho Súc rồi.

Nói đoạn, Nhan Súc tạ vua Tuyên Vương mà lui vào.



Tình mẫu tử trong nhân gian

Khấn Chuẩn thương nhớ mẹ

Ông Khấn Chuẩn thưở nhỏ, tính hay du đãng, không giữ lễ phép, lại thích chơi chim, chơi chó. Bà mẹ ông vốn là người nghiêm khắc, thấy con thế quỏ phạt luôn, mà vẫn không chứa.

Một hôm, ông bỏ học đi chơi, bà mẹ giận lắm, cầm cái quả cân ném ông, trúng phải chân, máu chảy đầm đìa… Ông bị đau, ít lâu mối khỏi. Tự bấy giờ ông không dám lêu lổng, phóng túng, chỉ chuyên cần học tập về sau, thi đỗ, làm quan đến Tể tướng. Lúc ông qui hiển, thì mẹ ông đã tạ thế rồi. Mỗi khi ông sờ đến vết thương ở chân, thì ông lại nức nở khóc lóc và nói rằng: “Chính cái vết thương này làm cho ta nên người đây”.

Tình mẫu tử trong nhân gian

Tình mẹ con con vượn

Ở đất Vũ Bình, có giống vượn lông đỏ như vang, nõn như tơ, trông xa lấp lánh rất là ngoạn mục. Có hai mẹ con con vượn, mẹ thì khôn ngoan, tai quái, con thì ngây ngô, nhẹ dạ, nhưng lúc nào cũng đi liền bên vượn mẹ. Ngưòi đi săn không thể nào nhử mồi, đánh bẫy được, mói lấy thuốc độc xác mũi tên, rình lúc vượn mẹ vô ý thì bắn. Vượn mẹ biết mình không thể sống được, vắt sữa ra dùng cho con uống, xong rồi lăn ra chết. Người đi săn quay về phía vượn con, cầm roi quật vào cái xác vượn mẹ. Vượn con thây, kêu gào thương xót, chạy ngay lại gần, người đi sân bắt sốhg được. Lúc về nhà, cứ đêm đêm, vượn con nằm phục bên xác mẹ, thì mối yên; một đôi khi lại ôm lấy kếu gào, vật vã rất thảm thiêt. Không được mấy hôm vượn con cũng chết.

Than ôi! Vượn là giông vật còn biết thương mẹ, liều chêt với mẹ, huống chi là giông người lại nỡ nhẫn tâm quên mẹ, phụ lòng mẹ ư!

Tống Liêm

Giải nghĩa. – Vũ Binh: tên đất ở vào địa phận phủ Định Châu tỉnh Phúc Kiến bây giờ.

Tống Liêm: người đòi nhà Minh học giỏi, nhò ngưòi từ lúc trẻ đến lúc già không có hôm nào ròi quyển sách, văn chương dồi dào làm Sử nhà Nguyên 210 quyển.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: truyện ngụ ngôn ngắn

Học trò biết – Phúc đấy họa đấy

HỌC TRÒ BIẾT HỌC

       Công Minh Tuyên đến học thầy Tăng Tử. Ở nhà thầy đã ba năm mà không mấy khi đọc sách.

       Thầy Tăng Tử hỏi: “Ngươi đến đây học đã ba năm nay, ta xem ý ngươi không mấy khi học tập sách vở như các anh em, là tại làm sao?”

      Công Minh Tuyên nói: “Thưa thầy, con vẫn học. Còn thầy: thầy ở trong nhà, trước mặt song thân, lúc nào cũng hiếu thuận, hòa nhã, cho đến giống vật như chó, mèo, thầy cũng không quỏ mắng bao giờ. Thầy ứng tiếp bạn bè cung kính ung dung, rất có lễ độ, kẻ dồ người hay, ai nấy đều thiếp phục. Thầy ở Triều đình, đối vói kẻ bể ngoài rất là nghiêm trọng mà trong bụng rất là nhân từ, không có ý hại ai bao giờ cả. Ba điều ấy con lấy làm vui lòng mà mãi làm chưa được. Con đâu dám không học mà cứ ở cửa nhà thầy. Thầy Tăng Tử nghe đoạn, tạ Công Minh Tuyên và nói rằng: Ta nay không bằng nhà ngươi.

        Giải nghĩa. – Công Minh Tuyên: người nước Lỗ về đời Xuân Thu, học trò thầy Tăng Tử.

        Lời bàn: Học trò như Công Minh Tuyên, thầy dạy như Tăng Tử, mới thực là học trò biết học, ông thầy biết dạy, xứng đáng thầy trò vậy. Làm ông thầy, không ìihững lấy tri thức mà truyền thụ, lại cần lấy đức tính mà làm gương giáo hóa cho kẻ đi học nữa. Sách có câu: “Dĩ ngôn vi giáo, dĩ thân vi giáo”, cũng là lấy nghĩa ấy. – Làm học trò không những bo bo ở việc học tập văn bài, lại phải học cả động, tĩnh, ngữ, mặc, thái độ hình dung của thầy để bắt chước cho được như thầy nữa. Học như thế mói là học được cái tinh hoa. Công Minh Tuyên chỉ học trong ba điều kể trong bài này, mà tức là học được đủ bổn phận của một ngươi đối vối gia tộc và xã hội vậy. Đây là học ồ trường học thường mà biết học còn hay như thế, huống chi học trường tự nhiên là trường thế giới mà biêt học thì hay còn biết đến chừng nào. 

Phúc đấy họa đấy

PHÚC ĐẤY, HỌA ĐẤY

       Một người nhà quê rải cỏ phơi ở chân giậu. Hôm sau ra vơ cỏ, nghe thấy tiếng kêu “tích tích” lật lên xem, thì bắt ngay được một con trĩ.

       Anh ta thấy thế, lại cứ để cỏ đấy, có ý mong ngày mai lại được con trĩ nữa. Mai ra, lắng tai nghe lại thấy tiếng “tích tích” như hôm trước, trong bụng mừng thầm. Nhưng vừa bới cỏ lên, thì ra một con rắn, nó cắn ngay vào tay, anh ta bị thương rồi chết.

      Úc Ly Tử nói rằng: “Một việc nhỏ ấy đủ làm gương cho ta. Trong thiên hạ có cái phúc không tưởng được thế, mà may được thê cũng có cái họa không ngờ đến thế, mà xảy ra thế!”


Họa phúc khôn lường – Vẽ gì khó – Cách đâm hố

HỌA PHÚC KHÔN LƯỜNG

      Một ông lão ở gần cửa ải có con ngựa tự nhiên đi sang nước Hồ mất. Người quen kẻ thuộc đểu đến hỏi thăm. Ông lão nói: “Mất ngựa thế mà phúc cho tôi đấy biết đâu!”

      Cách mấy tháng con ngựa về lại quyến thêm được một con ngựa hay nữa. Người quen kẻ thuộc đều đến mừng rỡ. Ông lão nói: “Được ngựa thế mà họa cho tôi biết đâu!”

      Từ khi được ngựa hay, con ông lão thích cưỡi, chẳng may ngã què chân. Ngưòi quen kẻ thuộc đểu đến hỏi thăm. Ông lão nói: “Con què thế mà phúc cho tôi đấy biết đâu!”.

      Cách một năm, có giặc Hồ. Nhà vua bắt lính đi đánh giặc. Quân lính mười người chết đến chín. Chỉ con ông lão, vì què không phải đi lính, mà cha con vẫn có nhau.

VẼ GÌ KHÓ

           Có người thợ vẽ, vẽ cho vua nưốc Tề mấy bức tranh.

Vua hỏi: Vẽ cái gì khó?

Thưa: Vẽ chó, vẽ ngựa khó.

            – Vẽ cái gì dễ?

            – Vẽ ma vẽ quỉ dễ.

          Sao lại thế?

         Chó, ngựa ai cũng trông thấy, vẽ mà không giống, thì người ta chê cười, cho nên khó vẽ, – Ma quỉ là giông vô hình, không ai trông thấy, tùy ý muốn vẽ thế nào cũng được, không sợ ai bẻ, cho nên dễ vẽ.

        Người nào bỏ những công việc nhật dụng thường hành, chỉ chăm làm những việc kỳ dị quái gở để lòe thiên hạ, thì cũng chẳng khác nào như người thợ chỉ vẽ ma, vẽ quỉ, nghĩa là tránh cái khó mà làm cái dễ vậy.

Họa phúc khôn lường

CÁCH ĐÂM HỐ

       Hai con hổ đang ăn thịt một con trâu. Biện Trang muốn ra đâm hổ. Có thằng trẻ con bảo ràng: “Hãy hượm, ông ạ. Hổ là giông tàn bạo, trâu là mồi ngon ngọt. Bây giờ hai con hổ đang cùng ăn một con trâu, thấy thịt trâu ngon, tất tranh nhau, đánh nhau. Đánh nhau, thì hổ nhỏ chết mất mà hổ lớn cũng bị thương. Ông đợi đến bấy giò hãy ra, thì có phải chỉ đâm một con, mà rồi được cả hai con không? Như thế, thì chẳng là công dùng ít mà lợi được nhiều ư?” Biện Trang cho lòi nói là phải, làm theo y như thê, quả nhiên bắt được cả hai con hổ.

        Giải nghĩa. – Biện Trang: Người nước Lỗ, thời Xuân Thu, làm quan Đại phu ở ấp Biện, là người khỏe có tiếng, thường hay đâm được hổ.

       Lời bàn: Bài này cốt ý dạy ta làm việc gì biết thừa cơ mà làm, thì ít khó nhọc, mà lại dễ thành công. Như Biện Trang đây, bắt hai con hổ ngay, công phu nhiều mà chưa chắc đã được. Đợi nó đánh nhau, một con chết, một con bị thương, thì ra chỉ mất công bắt một con hổ yếu (vì mói bị thương) mà rồi được cả hai con hổ vậy. Ý bài này cũng giông câu nói của Mạnh Tử: “Tuy hữu trí tuệ, bất như thừa thê; tuy hữu ti cơ, bất như đãi thời”. Nghĩa là tuy có khôn ngoan sáng suốt, chẳng bằng thừa được cái thế, lại dễ làm hơn; tuy có điền khí sẵn sàng, chẳng bằng đợi đến thời đáng làm mới làm thì lại được việc.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: khổng tử nói

Bàn về âm nhạc

         Âm là tự lòng người ta mà sinh ra. Lòng người có cảm giác, mới phát động ra âm. Âm tuy thanh ở ngoài miệng, mà thực phát ra tự trong lòng.

      Cho nên nghe âm thanh mà biết được phong tục, xét phong tục mà biết được chí hướng, xem chí hướng mà biết được đạo đức, thịnh, suy, khôn, dại, hay, dỏ đều hiện ra âm nhạc không giấu được ai. Bởi vậy, cứ lấy âm nhạc mà nghiệm được một nước ra thế nào.

       Đất xấu, thì cây cối khẳng khiu, nước đục, thì tôm cá gầy còm. Đòi suy thì lễ nghĩa phiền mà âm nhạc dâm. Những âm dâm đãng, tà khúc, những âm trên bộc trong dâu mà dưới dân gian lấy làm thích là nưốc loạn, mà trên vua chúa lấy làm vui, là đức suy.

        Âm nhạc đã không có tiết tấu, không được trang nghiêm, thuần một màu dâm đãng đã xuất ra thời chỉ cảm được cái lòng dâm đãng tà khúc mà rồi sinh ra bao nhiêu việc tà khúc gian nguy vậy.

Bàn về âm nhạc

       Cho nên người quân tử để tâm vào đạo mà sửa lấy đức, chỉnh lại đức để làm âm nhạc, hòa nhạc để cho thành thuận, mà nhạc có hòa, thì mối chỉnh đốn đươc mọi việc.

Tuân Tử

         Lời bàn: Nếu xem âm nhạc một nước, mà biêt được nước ấy là thế nào, thì đủ biết âm nhạc có một cái quan hệ mật thiết với sự tồn, vong thịnh suy của một nước. Ồi! Âm nhạc của nước ta hiện nay thê nào! Có nhiều người, nếu không chê rằng là ai oán chi âm, Trịnh Vệ chi thanh, thì cũng không cho được rằng có vẻ hùng dũng cái khí cao xa ở trong ây. Tiêc rằng người đánh đàn, kéo nhị thì nhiều, nhưng quanh đi quẩn lại, chỉ lưu thủy vối Nam ai, còn người thực am hiểu âm luật, có thể cải lương được âm nhạc chưa có mấy. Ước gì những bậc có tài nghệ âm nhạc hằng lưu tâm đến, làm cho cái âm nhạc sầu não, ẻo lả kia được chỉnh đôn mà phấn chấn mãi lên, thì thực là bậc “cứu quốc” có công to đối vối cả nước vậy.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: truyện ngụ ngôn dân gian việt nam

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Truyện đười ươi và thuật xem tướng

TRUYỆN ĐƯỜI ƯƠI

       Ở núi Phong Khê đất Thục có giống Đười ươi, mặt như mặt người, biết cười, biết nói. Máu nó dùng để nhuộm mùi, không bao giờ phai, nên người ta lừa bắt nó.

      Tính Đười ươi thích uống rượu, thích đi guốc. Người ta biết thế, đem rượu và guốc ra bày la liệt ở quãng đồng không, rồi đi nấp một chỗ. Đười ươi ngửi hơi rượu, kéo nhau ra thấy rượu, thấy guốc, biết rằng dứ mình bèn chửi rủa người lập mưu đánh bẫy, và nói thậm tệ đến cả ông cha người ấy. Đoạn bảo nhau đi, lầm nhẩm nói chớ có mắc mưu cái loài khốn nạn chực hại mình… Song đã đi mà vẫn ngoảnh lại, rồi lại bảo nhau: “Ta thử nếm xem tưởng không hại gì”. Tay chấm miệng mút, bén mùi làm mãi, thành say sưa mờ mịt, quên cả lời khôn, lẽ phải bấy lâu giữ gìn, chếnh choáng nghiêng ngả, nói nói, cười cười, chân đưa vào guốc, thất thểu đi…

     Người nấp bấy giò đổ ra thì Đười ươi lảo đảo chạy, con ngả nghiêng, con ngã ngửa, người ta bắt sạch không sót con nào.

     Than ôi! Biết rõ người ta lừa gạt mình, mà cứ tham lam mê muội để đến nỗi mắc lừa người ta mà mất mạng. Ngu lắm thay! Thật là ngu lắm thay!

thuật xem tướng

 THUẬT XEM TƯỚNG

       Nước Kinh có người xem tướng giỏi, nói câu nào là trúng câu ấy. Trong nước xa gần đâu cũng biết tiếng, Vua Trang Vương thấy thế, vời lại hỏi:

- Nhà ngươi dùng thuật gì mà xem tướng giỏi như thế?

Người xem tướng thưa rằng:

- Thần không có thuật gì cả. Thần chỉ xem bạan người ta mà biết được người ta hay, hay dở. Như thần xem cho thường dân, mà thấy chơi với những người bạn hiếu, đễ, thuần, cẩn biết giữ phép người, thì thần đoan người dân ấy là người hay, thân tất một ngày một vẻ vang, nhà tất một ngày một thịnh vượng – Như thần xem cho quan lại mà thấy chơi với những bạn thành, tín, có phẩm hạnh, thích điều phải thì thần đoán cho ông quan ấy là người tốt, làm quan tất mỗi ngày một cao thăng, giúp vua tất mỗi ngày một ích lợi. – Như thần xem cho vua chúa, mà thấy quan gần có lắm người hiền, quan xa có lắm người trung, lúc có lỗi, nhiều người can ngăn, thì thần đoán là ông vua giỏi, vua tâ’t mỗi ngày một tôn trọng, nưốe tất mỗi ngày một tri yên, thiên hạ tất mỗi ngày một qui phục… Thần quả không có thuật gì lạ, chỉ xem mà biết được người hay, hay dở.

     Vua Trang Vương cho nói là phải. Bấy giờ kíp thu dùng những người tài giỏi, sau nước Sở thành cường thịnh nhất đòi Chiến quốc.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: doc truyen ngu ngon

Báo thù và cách dùng pháp luật

BÁO THÙ

Nước Ngô, nước Việt đánh nhau.

Vua Ngô là Hạp Lư thua trận, phải quân Việt đâm chết. Con Hạp Lư là Phù Sai nối ngôi làm vua, thể thế nào cũng phục thù được cho cha mối nghe. Phù Sai bèn cho người đứng ở sấn, mỗi khi mình ra vào, người ấy phải nói to lên rằng:

“Phù Sai kia! Nưốc Việt nó giết cha mày mà mày quên ư?”

Phù Sai thưa rằng: “Dạ không dám quên.”

Ba năm sau, quả nhiên Phù Sai đánh được nước Việt, báo thù cho cha.

Lúc nước Việt thua, vua Việt là Câu Tiễu sai sứ sang cầu hòa, Tuy rằng được hòa; nhưng đêm ngày âu sầu, lo nghĩ nát gan, tan ruột. Chất củi làm giường nằm, treo cái mật trước chỗ ngồi. Khi nằm thì trông cái mật; khi ăn, thì nếm cái mật. Chính thân thì cày cuốc, vớ thì dệt vải làm ăn lao khổ như thường dân. Ai là bậc hiền tài, thì trọng dụng, ai là kẻ khôn khó thì cứu giúp. Hơn hai mươi năm trời, lúc nào cũng như vậy. Sau Câu Tiễn xem chừng lòng dân đã khiên được, bây giò mới đem quân đánh Ngô, quả nhiên Ngô lại thua mà Việt Được.

Lời bàn: Một bên vì cha mà báo thù, một bên vì nưóc mà báo thù, hai cái thù không đội trời chung, mà dụng tâm theo đuổi đến báo kỳ được mói nghe thực là chính đáng, khiến ai nghe thấy cũng phải kính phục. Nếu Phù Sai, Câu Tiễn gặp cái cảnh đau đốn như thế, mà cứ mặt dày mày dạn điềm nhiên như không , thì chẳng là đất đá, không biết nhục là cái gì ư! Có biết nhục, vậy sau mối rửa được nhục. Khi đã rửa được nhục lại cần phải tu tỉnh luôn luôn và quí nhất là cảm hóa và nâng đỡ kẻ thù đã chịu lui bước hay đã đầu hàng để cho họ đỡ đau khổ, có địa vị, thì mói được yên lâu. Nếu rửa nhục xong mà kiêu căng đại noạ, quên cả phòng bị thì lại chuốc lấy nhục mà oan oan tương báo, chỉ những tàn hại nhau hoài mà thôi!

Báo thù

CÁCH DÙNG PHÁP LUẬT.

Quí Cao làm quan sĩ sư nước Vệ có làm án chặt chân một người.

Sau nước Vệ loạn, Quí Cao chạy trốn, ra đến cửa thành, gặp ngưồi giữ cửa thành, lại chính là người mình chặt chân ngày trưốc.

Người ấy bảo: “Kia có chỗ tường đổ”.

Quí Cao nói: Ngưồi quân tử không trèo tường.

Lại bảo: “Kia có lỗ hổng”.

- Người quân tử không chui lỗ hổng.

Lại bảo: “Ở đây có cái nhà”.

Quí Cao mới chạy vào nhà ẩn. Bởi vậy mà quân đuổi theo không thể bắt được.

Lúc Quí Cao sắp đi, bảo người giữ thành rằng:

“Trưốc ta theo phép nước mà chặt chân ngưòi, nay ta gặp nạn, chính là cái dịp để người báo thù mà người ba lần chỉ lối cho ta trốn, thương ta như thế là nghĩa làm sao?”

Người giữ thành nói:

“Tội tôi đáng chặt chân, tránh sao cho khỏi. Lúc ông luận tội, xoay xỏ pháp luật, ý muôn nói tay, tôi cũng biết. Lúc án đã định, đem ra hành hình, nét mặt ông buồn rầu, tôi lại biết lắm. Ông làm như thế há có vị riêng gì tôi, đó là tâm địa quân tử tự nhiên như vậy… Thế cho nên tôi muốn cứu ông”.

Đức Khổng Tử nghe chuyện này, nói rằng: “Cũng là một cách dùng pháp luật, mà có lòng nhân từ, thì gây nên ơn, dùng mà ra dáng tàn bạo thì gây nên oán. Như Quí Cao là người làm quan biết dùng pháp luật vậy”