Pages

Được tạo bởi Blogger.

Thứ Bảy, 11 tháng 7, 2015

Vì nghĩa công, quên thù riêng

Đời nhà Đường, Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật cùng làm phó tướng của An Tử Thuận. Tính hai người vốn không ưa nhau; nhiều khi, tuy cùng đi với nhau một xe, ngồi với nhau một tiệc, mà vẫn như thù địch, không ai đàm đạo với ai cả.
Sau Tử Nghi được lên làm tướng thay Tử Thuận. Quang Bật sợ Tử Nghi hại mình, quả cảm đến nói rằng:
“Phần tôi dù chết cũng cam tâm, nhưng xin rộng lượng đừng hại đến vợ con tôi là kẻ vô tội”.
Tử Nghi thấy nói chạy ngay lại, cầm tay Quang Bật thưa rằng:
“Tôi đâu dám đem lòng oán hận riêng mà nỡ hại ông. Hiện nay trong nước loạn lạc, vua tôi lo và nhục, không ông thì không ai gánh nổi việc thiên hạ…”
Nói xong nước mắt ràn rụa, rồi lại lấy những điều trưng nghĩa khuyên răn, và lập tức cất Quang Bật lên làm chức Tiết độ sứ.

Vì nghĩa công, quên thù riêng

Từ đó hai người tuyệt nhiên không chút nào ghen ghét, ngờ vực nhau, chỉ cùng nhau một lòng đánh giặc, yên dân, giúp vua trị nước.
Lời bàn: Thù riêng cá nhân là việc nhỏ mọn, nghĩa công đối với cả nước là việc rất trọng. Biết quên thù riêng để làm nghĩa công như Quách Tử Nghi. Lý Quang Bật, thực là đáng khen vậy. Nghĩ đến thân, đến nhà trước, đến quốc gia sau cũng là nghĩa, song nghĩa hẹp mà gọi là tư. Nghĩ đến quốc gia trời đến thân, đến nhà sau, cũng là nghĩa song nghĩa rộng mà gọi là công. Quốc gia hay, hay dở, một kẻ bình dân cũng có trách nhiệm, huống chi là người gánh vác được việc quốc gia như Tử Nghi và Quang Bật. Ôi! Nước là cái thành để giữ thân, giữ nhà, không biết trọng nước tức là khinh thân, khinh nhà vậy. Tiếc thay cho những kẻ chức trọng, quyền cao, đối với thân, với nhà, thì việc nhỏ mọn cũng lấy làm lo lắng quan tâm, mà đối với quốc gia thì việc dù to lớn đến đâu cũng xem thường, xem khinh, chỉ thù hằn nhau, khuynh loát nhau, không biết đồng tâm hiệp lực lo liệu việc dân việc nước, thật là lầm to vậy.


Cảm tình

Có một người nước Yên lúc sinh, thì sinh ở nước Yên; lúc lớn lên, thì sang ở nước sở; lúc già lại trở về cố quốc. Khi đi qua nước Tấn (gần nước Yên), bạn cùng đi đường, chỉ vào cái thành mà nói dối anh ta: “Đấy là thành nước Yên”. Anh ta buồn rầu, khác hẳn sắc mặt. – Chỉ vào nền xã, nói: “Đấy là nền xã làng anh”. Anh ta ngậm ngùi than thở. – Chỉ vào cái nhà, nói: “Đấy là nhà của ông cha anh”. Anh ta rũ rượi rơm rớm nước mắt. – Chỉ vào cái gò, nói: “Đấy là mồ mả ông cha anh”. Anh ta òa lên khóc.
Bọn cùng đi, ai nấy phì cười, nói: “Chúng tôi nói đùa đấy. Đấy mới là nước Tấn, chưa phải là nước Yên”. Anh ta nghe nói lấy làm bẽn lẽn.
Kịp khi về đến nước Yên, anh ta trông thấy thật là thành, là xã nước Yên, thật là nhà cửa mổ mả của ông cha, thì lòng cảm thương lại hờ hững không còn được như trời nữa.

Cảm tình

Liệt Tử
Giải nghĩa:
- Yên: một nước mạnh trong bảy nước thời Chiên Quốc, tức là Phụng Thiên, Trực Lý và một phần phía bắc nước Triều Tiên (Cao Ly bấy giờ).
- Sở: (Xem bài số 9).
- Tấn: một nước ở Xuân Thu, đến đời Chiến quốc bị họ Hàn, họ Triệu, họ Nguỵ lấy mất và chia làm ba nước ở vào tỉnh Sơn Tấy và một phân Trực Lệ bấy giờ.
Lời bàn: Thường con người ta, ai cũng sẵn mối cảm tình, khi gặp thời gặp cảnh xúc động đến thì mối cảm tình ấy tất chứa chan, đầy rẫy hiện ra ngoài. Tuy vậy, mối cảm tình đã dùng lầm, thì sau này không còn được như trước. Một người đã đem bụng trung thành thờ kẻ vô đạo, một người đã để lòng ân ái, thương gái bất trinh, dù về sau, gặp được bậc anh quân hay người thục nữ, thì mối cảm tình cũng không còn được đằm thắm như xưa. Chẳng khác nào như người nước Yên đã đem kết nước mắt khóc chỗ giả dối mà không biết, đến khi gặp sự thực, thì lại hình như cạn hết nước mắt rồi. Cho nên đối với tính tình, người ta có biết, lấy học thuật mà đi dưỡng, lấy lễ nghĩa mà tiết chế, thì tính tình dùng mới chính đáng và thuần túy được. Xưa nay thánh hiền hào kiệt đều là người biết lý hôi tính tình cả.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: truyện ngụ ngôn ngắn

Tri kỷ

Bảo Thúc chết, Quản Trọng thương tiếc, khóc như mưa, ướt đẫm cả vạt áo.
Có người hỏi: “ông với Bảo Thúc không phải là họ hàng thân thích gì, mà sao ông thương khóc quá như vậy?”
Quản Trọng nói: “Ngươi không rõ, để ta nói cho mà nghe. Ta lúc nhỏ khốn khổ, thường buôn chung với Bảo Thúc, lúc chia lãi, bao giờ ta cũng lấy phần hơn, mà Bảo Thúc không cho ta là tham, biết ta gặp cảnh quẫn bách bất đắc dĩ phải lấy thế. – Ta ở chỗ chợ búa thường bị lắm kẻ nạt dọa, Bảo Thúc không cho ta là nhát, biết ta có lượng bao dung. – Ta bàn việc với Bảo Thúc, nhiều khi việc hỏng, Bảo Thúc không cho ta là ngu, biết có lúc may, lúc không may cho nên công việc thành hay bại. – Ta, ba lần ra làm quan, ba lần bị bãi, Bảo Thúc không cho ta là bất tiếu biết ta chưa gặp thời, chưa tìm được vua giỏi. – Ta ra trận ba lần, đánh thua cả ba, Bảo Thúc không cho ta là bất tài, biết ta còn có mẹ già phải phụng dưỡng.

Tri kỷ

Ta nhẫn nhục thờ vua Hoàn Công, Bảo Thúc không cho ta là vô sỉ, biết ta không giữ tiểu tiết, có chí làm ích lợi cho cả thiên hạ… Sinh ra ta là cha mẹ, biết ta là Bảo Thúc. Mà đối với người biết mình, mình đem cả tính mệnh ra hiến còn chưa cho là quá, huống chi thương khóc thế này đã thấm vào đâu!”.
Thuyết Uyển
Giải nghĩa. – Bảo Thúc: tức Bảo Thúc Nha thường còn gọi là Bảo Tứ, người giỏi nước Tề, tiến Quản Trọng cho Hoàn Công dùng, – Quản Trọng-, tên là Di Ngô, người nước Tề làm tướng giúp Hoàn Công giỏi có tiếng.
Lời bàn: Khó thật: ở đòi mình giao thiệp với nhiều người, bè bạn tưởng vô số, nhưng hồ dễ đã được mấy người thực gọi là tri kỷ. Thế nào là tri kỷ? Tri kỷ là người biết mình, nghĩa là đồng thanh, đồng khí, đồng chí, đồng tâm với mình, chơi với mình rất thân thiết, bao bọc che chỏ cho mình, lúc sống phúc cùng hưởng, họa cùng đau, lúc chết, tưởng có chết được với nhau cũng không hối. Quí thật! Người tri kỷ! Cho nên cổ nhân có câu, nói: “Đắc nhất tri kỷ, khả dĩ bất hận” nghĩa là ở đời có được một người tri kỷ cũng không còn ân hận gì nữa: lúc sống, có được một người biết mình, thì mình chết cũng không lấy làm uổng đời.



Biết rõ chữ “nghĩa”

Hoa Hâm chạy loạn, cùng đi với một bọn sáu bảy người. Giữa đường gặp một người lại cũng chạy loạn, đến kêu nài, xin nhập bọn. Chúng lấy làm ái ngại, thuận cho. Một mình Hoa Hâm nói:
“Không nên. Đang bước nguy hiểm, sinh tử, họa phúc có nhau, ta đi bấy nhiêu người cũng như một người vậy. Bấy giờ, vô cớ nhận một người lạ, lố khi xảy ra việc gì, thì có bỏ được người ta không?”
Chúng bất nhẫn cố nói với Hoa Hâm cho người kia cùng đi. Hoa Hâm bằng lòng.
Người kia đi được một quãng đường, chẳng may sa chân ngã xuồng giếng, cả bọn muôn bỏ mặc, để đi cho rảnh thân. Một mình Hoa Hâm nói:
“Không nên. Người ta cùng đi với mình là người bọn mình. Người ta gặp sự chẳng may như vậy, mà mình bỏ người ta sao cho đành”.
Nói rồi, bảo bấy nhiêu người cùng ở lại vớt người kia lên. Sau cứu mãi không được. Hoa Hâm lại bảo phải ở lại mai táng chu tất rồi mới đi.

Biết rõ chữ “nghĩa”

Giải nghĩa. – Hoa Hâm: người cuối đòi nhà Đông Hán, học giỏi, làm quan đến chức Thượng thư lệnh.
Lời bàn: Vô cớ cho một người lạ nhập bọn, nghĩa cũng không nên, một là e xảy ra sự gì hại đến thân mình, hai là sợ không được thủy chung với người ta. – Đã nhận người ta đi với mình một bọn, giữa đường người ta gặp sự chẳng may mà bỏ mặc người ta, nghĩa lại càng không nên lắm, vì như thế là bạc ác bất nhân, chỉ biết nhau trong lúc vô sự, đến khi nguy hiểm rồi lại bỏ nhau. Biết được cái đạo không nên nhận và cái đạo đã nhận như Hoa Hâm đấy mới thực là người hiểu rõ chữ “Nghĩa” tức là hiểu việc nên làm thê nào mới là phải vậy.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: doc truyen ngu ngon

Của báu

Nước Tông có người được hòn ngọc, đem biếu quan Tư thành là Tử Hãn. Tử Hãn không nhận. Người biếu ngọc thưa rằng:
“Ngọc này tôi đã đem cho thợ ngọc xem, quả là một thứ ngọc rất báu, mối dâng quan lớn, xin quan lớn nhận cho tôi được vui lòng”.
Tử Hãn nói: Người đem ngọc là của báu, ta cho tính không tham là của báu. Người đem ngọc cho ta, nếu ta nhận, thì hai bên cùng mất cả của báu. Âu là người cứ đem về, Ai giữ lấy của báu của người ấy, như thê của báu của hai người đều còn cả thì chẳng là hơn ư!
Người biếu ngọc, cúi đầu thưa: “Chúng tôi là thường dân mà lại có ngọc này, chỉ sợ trộm cướp mà có khi hại đến thân…”
Tử Hãn thấy thế, lưu người ấy lại, gọi thợ ngọc đến giũa ngọc, bán được tiền rồi, bèn đưa cho người ấy đem về để làm giàu.

Của báu

Tả Truyện
Lời bàn: Đã là người, ai cũng có hiếu thượng, cái hiếu thượng, ấy tức là của báu của mình. Nhưng hiếu thượng, không ai giống ai. Người kiến thức thô bỉ, thì hiếu thượng thô bỉ, người kiến thức cao minh, thì hiếu thượng cao minh. Kẻ dâng ngọc, chỉ biết ngọc là báu, nhưng người không nhận ngọc, lại cho thanh liêm mới là báu. Làm quan mà ai cũng có tính nhất quyết không nhận lễ vật của dân như Tử Hãn, lại có trí hiểu rõ được nguyện vọng của dân như Tử Hãn, có bụng che chỏ gấy dựng cho dân như Tử Hãn nói trong truyện này, thì dân nào chẳng kính, chẳng trọng, chẳng yêu quan như cha mẹ, sợ quan như thần minh!


Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2015

Truyện người A Lưu

A Lưu là một tên tiểu đồng nhà ông Chu Nguyên Tố. Nó thực là ngây ngô, không được việc gì cả, mà ông Nguyên Tố vẫn nuôi nó suốt đời.
Lúc ông bảo nó quét nhà, nó cầm chổi quanh quẩn suốt buổi mà không sạch được một cái buồng con. ông giận mắng, thì nó quăng chối xuống đất, lẩm bẩm nói: “Ông quét giỏi, thì ông phiền tôi làm gì!”.
Khi ông đi đâu vắng, sai nó chực ngoài cửa, dù khách quen đến nó cũng không nhớ được tên ai. Có hỏi, thi nó nói: “Người ấy lùn mà béo. Người ấy gầy mà lắm râu. Người ấy xinh đẹp. Người ấy tuổi tác. và chống gậy…” Đến lúc nó liệu chừng không nhớ xuể, thì nó đóng cửa lại, không cho ai vào nữa.
Trong nhà có chứa một ít đồ cổ như chén, lọ, đỉnh, đôn. Khách đến chơi, nó đem bày ra cho xem. Lúc khách về, nó lẻn đến gõ các thứ ấy, mà nói: “Những cái này có khi bằng đồng sao mà nó đen sì lại thế này!” Rồi nó chạy đi lấy cát, lấy đá, lấy nước đế đánh.
Nhà có cái ghế gãy chân, ông sai đi chặt cành cấy có chạc, để chữa lại thì nó cầm búa, cầm cưa đi khắp vườn. Hết ngày về, nó chìa hai ngón tay làm hiệu mà nói: “Cành cấy có chạc đều chĩa trở lên cả, không có cành nào mọc chúc xuống đất”. Cả nhà ai nghe cũng phải phì cười.
Trước sân có vài cấy liễu mối trồng. Ông sợ trẻ láng giềng đến nghịch hỏng, sai nó trông nom giữ gìn, đến lúc nó vào ăn cơm, thì nó nhổ cả cấy lên mà cất đi một chỗ. Công việc nó làm, nhiều chuyện đáng bật cười như thế cả. Ông Nguyên Tố là một người viết chữ chân tốt mà vẽ lại giỏi lắm. Một hôm, ông hòa phấn với mực để vẽ. Thấy A Lưu đấy, nói đùa rằng: “Mầy có vẽ được không? – A Lưu đáp: khó gì mà không vẽ được. – Ông bảo vẽ, thì A Lưu vẽ nét đậm, nét nhạt, nét xa, nét gần như người xưa nay vốn đã biết vẽ. ông thấy vậy thử luôn mấy lần, lần nào A Lưu vẽ cũng được như ý cả.


ông Chu Nguyên Tố

Tư bấy giờ, ông dùng đến A Lưu luôn không lúc nào là rời ra nữa. Sau A Lưu nổi tiếng là một nhà danh họa.
Lời bàn: Quét nhà suốt buổi không sạch được một cái buồng con; trồng cấy, lúc ăn cơm, nhổ cả cấy đem vào, người mà ngốc như thế, thì bảo còn dụng làm được việc gì nữa. Tuy vậy, không nhớ tên người chỉ nhớ hình người, thấy cành mọc lên, không thấy cành chúc xuống, xem đồ vật biết phân biệt đồng hay đất, thê đủ hay A Lưu có cái trí khuynh hướng về nghề vẽ, đã như có một cái khả năng về nghề vẽ vậy. Ôi! Gỗ mục vứt đi người kiếm củi vẫn nhặt, đá cuội là xấu, thợ ngọc vẫn dùng. Trong trời đất thực không có vật gì là vật bỏ đi, huống chi là người ta tinh khôn hơn vạn vật, lại không được một điều gì khả thủ ư? A Lưu ngấy dại, tưởng là người bỏ đi, thế mà được nổi tiếng về nghề họa, cũng là nhờ ông Nguyên Tố có lượng bao dung, biết dụng nhân như dụng mộc. Xem bài này thì cha mẹ dạy con, thầy dạy học trò chẳng nên tìm rõ cái sở trường của mỗi đứa mà dẫn dụ, mà luyện tập nó mặt ấy, ngay tự lúc còn trẻ tuổi, để cho nó may có có thành tài được ru! Đã đành: Thiên địa vô khí vật, thánh nhân vô khí nhân, nhưng cốt phải biết: nhân tài nhi đốc, (tùy theo cái tài mà bồi bổ khải phát cho nẩy nở ra) thì tài mới thành được.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: truyện cười ngụ ngôn

Mất búa và tưởng đổ

Mất búa
Có người đánh mất cái búa, ngờ cho đứa con nhà láng giềng lấy trộm. Anh ta trông dáng nó đi, rõ ra đứa ăn trộm búa, nhìn vẻ mặt nó, rõ ra đứa ăn trộm búa, thấy nó cất nhắc, hành động, không một tí gì là không rõ ra một đứa ăn trộm búa cả.
Được một lúc, người ấy bới trong hố, lại thấy cái búa, thì hôm sau, trông đứa con nhà láng giềng ngôn ngữ cử chỉ lại không một tí gì giông đứa ăn trộm búa nữa.
Liệt Tử
Lời bàn: Người ta, khi mất cái gì, thì một mất mười ngờ. Mà khi trong bụng đã ngờ vực thì các ngoại vật cũng theo đấy mà biến đổi đi cả. Phàm tâm trí mình đã cảm giác làm sao, thì tự mình lại tưởng tượng một cái cảnh sắc hợp như thế. Người mình vui, thì mình thấy sự vật ngoài hình như cũng vui; người mình buồn, thì mình thấy sự vật ngoài cũng buồn. Chẳng qua là tại tự mình in trí như vậy, chớ ngoài vật hồ dễ đã có mối liên lạc mật thiết với mình mà thật thay đổi như thế đâu! Cái tâm chuyển thời hết thảy muôn pháp đều chuyển theo. Cho nên tâm cần phải chính. Tâm có chính thì tư tưởng hành vi mới thoát khỏi tà khúc được.


Mất búa

Tường đổ
Nước Tông có người nhà giàu. Một hôm trời mưa, tường nhà anh đổ. Đứa con nói: “Thưa cha, không đắp ngay tường lại, e có trộm vào”. Người láng giềng thấy tường đổ, cũng nói: “Này bác, không đắp ngay tường lại, e có trộm vào”. Tường chưa kịp đắp, tối hôm ấy nhà anh ta quả nhiên mất trộm thật.
Anh ta khen đứa con là khôn ngoan biết trước, mà ngò người láng giềng là gian giảo làm xằng.
Cũng một câu nói, con nói, thì khen là tinh khôn, láng giềng nói, thì ngờ là trộm cắp, bởi tại có làm sao? Tại con, thì tình thân, cho nên không có bụng ngờ, láng giềng là tình sơ, cho nên sinh ra ngờ vực. Thế cho nên, phận sơ mà câu nói thân, thì thê nào cũng làm cho người nghe mình đem lòng nghi hoặc.
Hàn Phi Tử
Lời bàn: Bài này cốt dạy ta phải thận trọng câu nói. Người láng giềng đấy sở dĩ mà để người nhà giàu ngờ vực, là vì không được thân với người ta, mà nói một câu ra chừng thân lắm, muốn lo việc của người như việc của mình, coi việc thiết đến người cũng như thiết đến mình vậy. Cho nên: Gặp người đáng nói mà không nói là bỏ hoài mất một người, thì gặp người không đáng nói mà lại nói, chẳng những là làm phí một lòi nói, mà lại để cho người ta sinh nghi tình ra nữa!